Địa chỉ: Khu 2, ấp 4, Xã Tóc Tiên, Phú Mỹ, Bà Rịa - Vũng Tàu. Hotline: 0907 249 746

IV. CHƯƠNG ƯNG ĐỐI TRỊ (5)

IV. CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ) (tt)

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT

(Sử dụng dù dép)

 

[444] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư sử dụng dù dép. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại sử dụng dù dép, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại sử dụng dù dép?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư sử dụng dù dép, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại sử dụng dù dép vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

 

[445] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh. Không có dù dép vị ni ấy không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, ta cho phép dù dép đối với vị tỳ khưu ni bị bệnh. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[446] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Không bị bệnh nghĩa là không có dù dép vị ni ấy vẫn thoải mái.

 

Bị bệnh nghĩa là không có dù dép vị ni ấy không được thoải mái.

 

nghĩa là có ba loại dù: dù trắng, dù bằng sậy, dù bằng lá được buộc theo vòng tròn.

 

Sử dụng: Vị ni sử dụng dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[447] Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Vị ni sử dụng dù không (sử dụng) dép thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Vị ni sử dụng dép không (sử dụng) dù thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

 

[448] Vị ni bị bệnh, vị ni mang trong tu viện, (mang) trong vùng phụ cận tu viện, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ

(Đi xe)

 

[449] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại di chuyển bằng xe, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại di chuyển bằng xe?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại di chuyển bằng xe vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

 

[450] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh không thể đi bằng chân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, ta cho phép xe đối với tỳ khưu ni bị bệnh. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[451] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Không bị bệnh nghĩa là vị ni ấy có thể đi bằng chân.

 

Bị bệnh nghĩa là vị ni ấy không thể đi bằng chân.

 

Xe nghĩa là xe bò, xe kéo, xe hàng, xe ngựa, kiệu khiêng, ghế khiêng.

 

Di chuyển: Vị ni di chuyển (bằng xe) dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[452] Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

 

[453] Vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ BA

(Mang váy)

 

[454] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ thường lui tới với gia đình của người đàn bà nọ. Khi ấy, người đàn bà ấy đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này:

 

- Thưa ni sư, xin hãy trao cái váy này cho người đàn bà tên này.

 

Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy (nghĩ rằng): “Nếu ta dùng bình bát đựng rồi đi thì ta sẽ bị mất thể diện” nên đã buộc vào rồi đi. Khi cô ni ấy ở trên đường lộ, sợi chỉ bị đứt khiến (các vật kết vào) bị văng tung toé. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại mang váy, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao tỳ khưu ni lại mang váy?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni mang váy, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni lại mang váy vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào mang váy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[455] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Váy nghĩa là bất cứ loại gì choàng ở hông.

 

Mang: Vị ni mang vào dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[456] Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni mang băng vải buộc ở hông, [1] vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ

(Mang đồ trang sức của phụ nữ)

 

[457] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đeo đồ trang sức của phụ nữ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại đeo đồ trang sức của phụ nữ, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại đeo đồ trang sức của phụ nữ?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đeo đồ trang sức của phụ nữ, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại đeo đồ trang sức của phụ nữ vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào đeo đồ trang sức của phụ nữ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[458] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Đồ trang sức của phụ nữ nghĩa là vật đeo ở đầu, vật đeo ở cổ, vật đeo ở cánh tay, vật đeo ở bàn chân, vật đeo ở hông.

 

Đeo: Vị ni đeo vào dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[459] Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM

(Tắm bằng vật thơm và có màu sắc)

 

[460] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng vật thơm có màu sắc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại tắm bằng vật thơm có màu sắc, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng vật thơm có màu sắc?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng vật thơm có màu sắc, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng vật thơm có màu sắc vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tắm bằng vật thơm có màu sắc thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[461] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Vật thơm nghĩa là bất cứ vật gì có mùi thơm.

 

(Vật) có màu sắc nghĩa là bất cứ vật gì có màu sắc.

 

Tắm: Vị ni tắm, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi hoàn tất việc tắm phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[462] Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU

(Tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương)

 

[463] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[464] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Có tẩm hương nghĩa là bất cứ vật gì có tẩm hương thơm.

 

Bã dầu mè nghĩa là xác hạt mè được đề cập đến.

 

Tắm: Vị ni tắm, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi hoàn tất việc tắm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[465] Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni tắm bằng bã dầu mè loại bình thường, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY

(Bảo tỳ-khưu ni xoa bóp và chà xát cơ thể)

 

[466] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể). Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể), giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni lại bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể)?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể), có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể), vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể) thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[467] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

(Bởi) vị tỳ khưu ni: (bởi) vị tỳ khưu ni khác.

 

Bảo xoa bóp: Vị ni bảo xoa bóp thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Bảo chà xát: Vị ni bảo thoa dầu (toàn thân) thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[468] Vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM-CHÍN-MƯỜI

(Bảo cô ni tu tập sự, sa-di ni, người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể)

 

[469] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bảo cô ni tu tập sự xoa bóp và chà xát (cơ thể). ...(như trên)... bảo sa di ni xoa bóp và chà xát (cơ thể). ...(như trên)... bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể). Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể), giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni lại bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể)?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể), có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể) vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể) thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[470] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Cô ni tu tập sự nghĩa là người nữ thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm.

 

Sa di ni nghĩa là người nữ có liên quan đến mười điều học.

 

Người nữ tại gia nghĩa là đề cập đến người nữ ở gia đình.

 

Bảo xoa bóp: Vị ni bảo xoa bóp thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Bảo chà xát: Vị ni bảo thoa dầu (toàn thân) thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[471] Vì nguyên nhân bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI MỘT

(Ngồi xuống ở phía trước tỳ-khưu không hỏi ý)

 

[472] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa có sự hỏi ý. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni lại ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa có sự hỏi ý?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa có sự hỏi ý, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa có sự hỏi ý vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa có sự hỏi ý thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[473] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Phía trước vị tỳ khưu: Phía trước người nam đã tu lên bậc trên.

 

Khi chưa có sự hỏi ý: sau khi không xin phép.

 

Ngồi xuống trên chỗ ngồi: vị ni ngồi xuống cho dầu ở trên mặt đất cũng phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[474] Khi chưa được hỏi ý, nhận biết là chưa được hỏi ý, vị ni ngồi xuống trên chỗ ngồi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Khi chưa được hỏi ý, có sự hoài nghi, vị ni ngồi xuống trên chỗ ngồi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Khi chưa được hỏi ý, (lầm) tưởng là đã được hỏi ý, vị ni ngồi xuống trên chỗ ngồi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Khi đã được hỏi ý, (lầm) tưởng là chưa được hỏi ý, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Khi đã được hỏi ý, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Khi đã được hỏi ý, nhận biết là đã được hỏi ý thì vô tội.

 

[475] Vị ni có sự hỏi ý rồi ngồi xuống trên chỗ ngồi, vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI HAI

(Hỏi câu hỏi ở vị tỳ-khưu chưa được thỉnh ý trước)

 

[476] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni hỏi câu hỏi đến vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước (anokāsakataṃ). Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[477] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Chưa được thỉnh ý: không có sự hỏi ý.

 

Vị tỳ khưu: người nam đã tu lên bậc trên.

 

Hỏi câu hỏi: Sau khi đã thỉnh ý trước về Kinh, vị ni hỏi Luật hoặc Vi Diệu Pháp thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Sau khi đã thỉnh ý trước về Luật, vị ni hỏi Kinh hoặc Vi Diệu Pháp thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Sau khi đã thỉnh ý trước về Vi Diệu Pháp, vị ni hỏi Luật hoặc Kinh thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[478] Khi chưa hỏi ý, nhận biết là chưa hỏi ý, vị ni hỏi câu hỏi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Khi chưa hỏi ý, có sự hoài nghi, vị ni hỏi câu hỏi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Khi chưa hỏi ý, (lầm) tưởng là đã hỏi ý, vị ni hỏi câu hỏi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

Khi đã hỏi ý, (lầm) tưởng là chưa hỏi ý, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Khi đã hỏi ý, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Khi đã hỏi ý, nhận biết là đã hỏi ý thì vô tội.

 

[479] Vị ni hỏi sau khi đã thỉnh ý, vị ni hỏi bất cứ phạm vi nào sau khi đã thỉnh ý không giới hạn (phạm vi câu hỏi), vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

PHẦN DÙ DÉP - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI BA

(Không mặc áo lót đi vào làng)

 

[480] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ không mặc áo lót[2] đã đi vào làng khất thực. Khi vị ni ấy đang ở trên đường lộ, các cơn gió xoáy đã hất tung y hai lớp lên. Dân chúng đã la lớn lên rằng:

 

- Ngực và bụng của ni sư đẹp!

 

Vị tỳ khưu ni ấy trong khi bị dân chúng chế giễu đã xấu hổ. Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã đi về ni viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao tỳ khưu ni không mặc áo lót lại đi vào làng?

 

...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni không mặc áo lót đi vào làng, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni không mặc áo lót lại đi vào làng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào không mặc áo lót đi vào làng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

 

[481] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Không mặc áo lót: thiếu đi áo lót.

 

Áo lót nghĩa là nhằm mục đích che kín phần dưới xương đòn (ở cổ) và phần trên lỗ rún.

 

Đi vào làng: Vị ni trong lúc vượt qua hàng rào của làng được rào lại thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Vị ni trong lúc đi vào vùng phụ cận của làng không được rào lại thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

 

[482] Vị ni có y bị cướp đoạt, vị ni có y bị hư hỏng, vị ni bị bệnh, khi bị thất niệm, trong lúc không biết, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

Phần Dù Dép là phần thứ chín.

 

*******

 

[483] Bạch chư đại đức ni, một trăm sáu mươi sáu điều pācittiya (ưng đối trị)[3] đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

Dứt Pācittiya (Ưng Đối Trị).

 

********

 

 

 

   

 

V. CHƯƠNG PĀṬIDESANĪYA

(ƯNG PHÁT LỘ)

 

Bạch chư đại đức ni, tám điều pāṭidesanīya (ưng phát lộ) này được đưa ra đọc tụng.

 

[484] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni lại yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng? Khi được đầy đủ ai mà không vừa ý? Đồ ngon ngọt ai lại không thích thú?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng?

 

…(như trên)…

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

 

[485] Vào lúc bấy giờ, có các tỳ khưu ni bị bệnh. Các tỳ khưu ni thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu ni bị bệnh điều này:

 

- Này các ni sư, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?

 

- Này các ni sư, trước đây chúng tôi yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, nhờ thế chúng tôi được thoải mái. Giờ đây, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán,” trong lúc ngần ngại nên không yêu cầu, vì thế chúng tôi không được thoải mái.

 

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni bị bệnh được yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”

 

[486] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Không bị bệnh nghĩa là vị có được sự thoải mái khi không có bơ lỏng.

 

Bị bệnh nghĩa là vị không có sự thoải mái khi không có bơ lỏng.

 

Bơ lỏng (sappi) nghĩa là bơ lỏng từ loài bò, hoặc là bơ lỏng từ loài dê, hoặc là bơ lỏng từ loài trâu, hoặc bơ lỏng từ các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng).[4]

 

Vị ni không bị bệnh yêu cầu cho nhu cầu của bản thân, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). (Nghĩ rằng): “Với sự đạt được, ta sẽ thọ dụng” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

[487] Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

 

[488] Vị ni bị bệnh, sau khi bị bệnh rồi yêu cầu thì hết bệnh và thọ dụng, vị ni thọ dụng phần còn lại của vị ni bị bệnh, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

[489] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư yêu cầu dầu ăn rồi thọ dụng.

 

(Có sự thu gọn) yêu cầu mật ong rồi thọ dụng. ...(như trên)... yêu cầu đường mía rồi thọ dụng. ...(như trên)... yêu cầu cá rồi thọ dụng. ...(như trên)... yêu cầu thịt rồi thọ dụng. ...(như trên)... yêu cầu sữa tươi rồi thọ dụng. ...(như trên)... yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni lại yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng? Khi được đầy đủ ai mà không vừa ý? Đồ ngon ngọt ai lại không thích thú?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng?

 

…(như trên)…

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

 

[490] Vào lúc bấy giờ, có các tỳ khưu ni bị bệnh. Các tỳ khưu ni thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu ni bị bệnh điều này:

 

- Này các ni sư, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?

 

- Này các ni sư, trước đây chúng tôi yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, nhờ thế chúng tôi được thoải mái. Giờ đây, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán,” trong lúc ngần ngại nên không yêu cầu, vì thế chúng tôi không được thoải mái.

 

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...

 

- Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni bị bệnh được yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”

 

[491] Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

 

Tỳ khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

 

Không bị bệnh nghĩa là vị có được sự thoải mái khi không có sữa đông.

 

Bị bệnh nghĩa là vị không có sự thoải mái khi không có sữa đông.

 

Dầu ăn (telaṃ) nghĩa là dầu mè, dầu hạt mù tạt, dầu có chứa mật ong, dầu cây eraṇḍa, dầu từ mỡ thú.

 

Mật ong (madhu) nghĩa là mật của loài ong.

 

Đường mía (phāṇitaṃ) nghĩa là được sản xuất từ cây mía.

 

Cá (maccho) nghĩa là loài di chuyển trong nước được đề cập đến.

 

Thịt (maṃsaṃ) nghĩa là thịt của các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng).

 

Sữa tươi (khīraṃ) nghĩa là sữa tươi từ loài bò, hoặc là sữa tươi từ loài dê, hoặc là sữa tươi từ loài trâu, hoặc là sữa tươi từ các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng).

 

Sữa đông (dadhi) nghĩa là sữa đông của chính các loài thú ấy.

 

Vị ni không bị bệnh yêu cầu cho nhu cầu của bản thân, trong lúc thực hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). (Nghĩ rằng): “Với sự đạt được, ta sẽ thọ dụng” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

[492] Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ).

 

Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

 

[493] Vị ni bị bệnh, sau khi bị bệnh rồi yêu cầu thì hết bệnh và thọ dụng, vị ni thọ dụng phần còn lại của vị ni bị bệnh, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

[494] Bạch chư đại đức ni, tám điều pāṭidesanīya (ưng phát lộ) đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

Dứt Chương Pāṭidesanīya (Ưng Phát Lộ).

 

*******

 

 

 

     VI. CHƯƠNG SEKHIYA

(ƯNG HỌC)

 

Bạch chư đại đức ni, các sekhiyā dhammā[5] (ưng học pháp) này được đưa ra đọc tụng.

 

[495] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau?

 

…(như trên)…

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Ta sẽ mặc y (nội) tròn đều” là điều học nên được thực hành.

 

[496] Nên mặc y nội cho tròn đều với việc che kín ở vòng bụng nơi lỗ rún và vòng đầu gối. Vị ni nào mặc y nội lòng thòng ở phía trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

[497] Vị ni không cố ý, khi thất niệm, vị ni không biết, vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

(Có sự thu gọn)

 

[498] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Tại sao các tỳ khưu ni lại đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?

 

Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

 

- Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước?

 

Khi ấy, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã hỏi các tỳ khưu rằng:

 

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước, có đúng không vậy?

 

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

 

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Ta sẽ không đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước” là điều học nên được thực hành. Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

 

[499] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bị bệnh ngần ngại khi đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

- Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni bị bệnh được đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Ta sẽ không đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước khi không bị bệnh” là điều học nên được thực hành.

 

[500] Vị ni không bệnh không nên đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước. Vị ni nào không bị bệnh đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

 

[501] Vị ni không cố ý, khi thất niệm, vị ni không biết, vị ni bị bệnh, sau khi thực hiện trên đất rồi xối nước, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni có tâm bị rối loạn, vị ni bị thọ khổ hành hạ, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.

 

*******

 

[502] Bạch chư đại đức ni, các sekhiyā dhammā (ưng học pháp) đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

Dứt Sekhiya (Sekhiyā niṭṭhitā).

 

*******

 

  

 

VII. CÁC PHÁP DÀN XẾP TRANH TỤNG

(ADHIKARAṆASAMATHĀ DHAMMĀ)

 

[503] Bạch chư đại đức ni, bảy pháp dàn xếp tranh tụng này được đưa ra đọc tụng.

 

Nhằm đưa đến sự dàn xếp, nhằm đưa đến sự giải quyết các sự tranh tụng đã sanh khởi hoặc chưa sanh khởi, nên áp dụng cách hành xử Luật với sự hiện diện (sammukhāvinayo), nên áp dụng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ (sativinayo), nên áp dụng cách hành xử Luật khi không điên cuồng (amūḷhavinayo), nên phán xử theo sự thừa nhận (paṭiññāya), thuận theo số đông (yebhuyyasikā), theo tội của vị ấy (tassapāpiyasikā), cách dùng cỏ che lấp (tiṇavatthārako).

 

Bạch chư đại đức ni, bảy pháp dàn xếp tranh tụng đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

 

Các đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

 

Dứt các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng.

 

*******

 

[504] Bạch chư đại đức ni, phần mở đầu (nidāna) đã được đọc tụng, tám điều pārājika (bất cộng trụ) đã được đọc tụng, mười bảy điều saṅghādisesa (tăng tàng) đã được đọc tụng, ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) đã được đọc tụng, một trăm sáu mươi sáu điều pācittiya (ưng đối trị) đã được đọc tụng, tám điều pāṭidesanīya (ưng phát lộ) đã được đọc tụng, các sekhiyā dhammā (ưng học pháp) đã được đọc tụng, bảy adhikaraṇasamathā dhammā (pháp dàn xếp tranh tụng) đã được đọc tụng.

 

Bấy nhiêu của đức Thế Tôn ấy đã được truyền lại trong giới bổn, đã được đầy đủ trong giới bổn, được đưa ra đọc tụng vào mỗi nửa tháng. Chính tất cả (chư đại đức ni) nên học tập các điều học ấy với sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ.

 

Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni được chấm dứt.

 

*******

 

[1] Được đề cập ở Tiểu Phẩm - Cullavagga, chương X, [571, 572].

 

[2] Một trong năm thứ y của vị tỳ khưu ni cần phải có khi tu lên bậc trên: y hai lớp (saṅghāṭi), thượng y, y nội, áo lót, vải choàng tắm (Tiểu Phẩm – Cullavagga, chương X, [575]).

 

[3] Lời giải thích của ngài Buddhaghosa được tóm lược như sau: Tổng số giới pācittiya (ưng đối trị) của tỳ khưu ni là 166 điều, và đã được trình bày ở đây là 96 điều và 70 điều còn lại là những điều đã quy định chung cho tỳ khưu và tỳ khưu ni và được trình bày trong Phân Tich Giới Tỳ khưu - Bhikkhuvibhaṅga. Trong số 92 điều ưng đối trị của tỳ khưu, thay vì tìm 70 điều là phần quy định chung, chúng ta sẽ bớt đi 22 điều quy định riêng cho tỳ khưu gồm có: 10 điều thuộc phần giáo giới (21-30), 4 điều thuộc phần vật thực: Trường hợp vật thực thỉnh sau (33), thọ thực thức ăn không phải là đồ thừa (35), mời thức ăn không phải là đồ thừa rồi buộc tội (36), yêu cầu các loại vật thực thượng hạng (39); thêm vào 8 điều nữa là: Bố thí đến tu sĩ ngoại đạo (41), che giấu tội xấu xa (64), cho tu lên bậc trên người chưa đủ hai mươi tuổi (65), hẹn hò rồi đi chung đường xa với người nữ (67), đi vào hậu cung của đức vua (83), vào làng lúc sái thời chưa thông báo vị tỳ khưu hiện diện (85), tọa cụ (89), y choàng tắm mưa (92). Tổng cộng là 22 điều.

 

[4] Thịt của mười loài thú vị tỳ khưu không được dùng được đề cập ở Đại Phẩm – Mahāvagga tập 2, chương VI, [59, 60] gồm có: thịt người, thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn, thịt sư tử, thịt hổ, thịt beo, thịt gấu, thịt chó sói.

 

[5] Sekhiya: (phân từ vị lai thể thụ động, từ ngữ căn √sikkh) nghĩa là cần được học tập, nên được rèn luyện.

 

-ooOoo-

05-05-2019 - 110 lượt xem

back-to-top.png